THUẾ VÀ AEC

THUẾ VÀ AEC

AEC là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực chứ không phải là một thỏa thuận hay hiệp định với các cam kết ràng buộc thực chất. Tham gia vào các mục tiêu của AEC là hàng loạt các hiệp định, thỏa thuận, tuyên bố… giữa các nước ASEAN có liên quan tới các mục tiêu này.
thue-AEC

AEC là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực chứ không phải là một thỏa thuận hay hiệp định với các cam kết ràng buộc thực chất.

Việc hiện thực hóa AEC được triển khai trong cả quá trình lâu dài, bao gồm việc thực hiện các cam kết tại các Hiệp định cụ thể về thương mại đã ký kết giữa các nước ASEAN) và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới theo lộ trình các Hiệp định, Thỏa thuận đã có và các vấn đề mới (nếu có phát sinh).

Các Hiệp định thương mại hướng tới AEC bao gồm:

Một là, Hiệp định Thương mại Hàng hoá ASEAN (ATIGA) mà tiền thân của nó là Hiệp định Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT/AFTA). Theo ATIGA, đến năm 2010 các nước ASEAN-6 phải xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 100% dòng thuế thuộc danh mục thông thường; chỉ giữ lại một số dòng thuế thuộc Danh mục loại trừ chung gồm những sản phẩm được miễn trừ vĩnh viễn. Trong giai đoạn từ năm 1999 đến 2015, Việt Nam đã cắt giảm/xóa bỏ thuế nhập khẩu xuống còn 0-5% đối với khoảng 90% dòng thuế, chỉ còn giữ linh hoạt đối với 7% dòng thuế còn lại đến năm 2018, đối với 3% số dòng thuế thuộc Đáng chú ý là 7% số dòng thuế được phép linh hoạt giữ lại thuế cho tới 2018 chỉ bao gồm các mặt hàng ô tô và linh kiện, sắt thép, linh kiện và phụ tùng xe máy, máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng, xe đạp và phụ tùng, rượu bia, sản phẩm chất dẻo, giấy các loại. Kể từ năm 2018 trở đi, Việt Nam chỉ còn được duy trì thuế nhập khẩu với mức thuế suất tối đa là 5% đối với khoảng 3% số dòng thuế, bao gồm phần lớn là các mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm. Hai nhóm mặt hàng có lộ trình cam kết dài là xăng dầu (đến 2024) và thuốc lá.

Hai là, Hiệp định Khung về Dịch vụ của ASEAN (AFAS) được ký năm 1995 và sửa đổi vào năm 2003 nhằm điều chỉnh hoạt động cung cấp dịch vụ giữa các nước ASEAN. Trên cơ sở AFAS, các nước ASEAN đến nay đã hoàn thành 8 Gói cam kết về dịch vụ (cam kết cho 80 phân ngành), và đang đàm phán Gói thứ 9 (cam kết cho 104 phân ngành) và sau đó sẽ đàm phán Gói cuối cùng (cam kết cho 124 phân ngành) nhằm hướng tới mục tiêu tự do hóa dịch vụ đến năm 2015.

Ba là, Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) được ký kết tháng 2/2009, có hiệu lực từ 29/3/2012 thay thế cho Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư ASEAN (IGA)-1987 và Hiệp định Khu vực đầu tư ASEAN (AIA)-1998.

AEC đánh dấu sự hội nhập toàn diện các nền kinh tế ASEAN, tạo ra thị trường chung của một khu vực có dân số khoảng 600 triệu người và GDP hàng năm khoảng 2.000 tỷ USD.

Cơ hội lớn – thách thức không nhỏ

Sự kiện thành lập AEC và khi mà các mục tiêu của nó đã và đang được hoàn tất, AEC sẽ mang lại những cơ hội lớn cho nền kinh tế và các DN Việt Nam, đặc biệt là:

AEC mở ra một khu vực thị trường chung rộng lớn, mở ra cơ hội làm ăn kinh doanh lớn cho các DN trong khu vực…

AEC mở ra cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam: môi trường kinh doanh được mở rộng theo hướng minh bạch và bình đẳng hơn sẽ là điều kiện để thu hút đầu tư nước ngoài không những từ các nước ASEAN mà cả từ các nước ngoại khối, đặc biệt là các nước đối tác FTA của ASEAN vào Việt Nam để tham gia và chuỗi giá trị khu vực.

Tuy vậy, AEC cũng đem đến thách thức không nhỏ.

Thách thức lớn nhất là sức ép cạnh tranh từ hàng hóa từ các nước ASEAN: với cơ cấu sản phẩm tương đối giống nhau ở cả 10 nước ASEAN, việc mở cửa thị trường sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn đối với các DN Việt Nam, đặc biệt là các DN có sức cạnh tranh yếu và ở các ngành vốn được bảo hộ cao từ trước tới nay… Thách thức đó cần được cảnh báo nhiều hơn đối với các ngành hàng mà chúng ta được nhiều cơ hội, nhiều ưu đãi khi thực hiện Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA). Nếu DN của chúng ta không có những đổi mới, cải tiến về công nghệ, không tăng được năng suất lao động, không cắt giảm được chi phí, không đủ năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu… thì những cơ hội đó được hiến dâng cho các nhà đầu tư đến từ các nước ASEAN và Trung Quốc, bởi họ đã và đang đẩy mạnh đầu tư lập DN tại Việt Nam.

Thách thức về dịch vụ: Nếu mục tiêu tự do lưu chuyển dịch vụ trong AEC được hiện thực hóa, các DN Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ chắc chắn sẽ bị đặt trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn rất nhiều, bởi vì lâu nay các rào cản/điều kiện đối với nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vào Việt Nam vẫn còn tương đối cao. Nguy hiểm nhất là khối DN dịch vụ của chúng ta trong một thời gian rất dài đã hình thành một thói quen được sự “bao bọc” khá kỹ lưỡng trong các quy định của Chính phủ và các Bộ, ngành về nhiều lĩnh vực dịch vụ.

Thách thức về lao động: nếu không có sự chuẩn bị đầy đủ, lao động Việt Nam với thực trạng là tay nghề kém, sức khoẻ trung bình… chắc chắn sẽ gặp khó khăn không hề nhỏ.

Thách thức về quản lý dòng vốn trong quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô:Nếu AEC hoàn thành mục tiêu tự do lưu chuyển về vốn, Việt Nam sẽ đứng trước không ít khó khăn và thách thức trong việc kiểm soát dòng vốn ra/vào. Đối với DN, có thể sẽ không còn những hàng rào bảo vệ DN trước việc rút vốn của đối tác nước ngoài, các vụ tranh chấp có thể bị đưa ra trọng tài quốc tế…

Cần lưu ý và cũng cần bình tĩnh để nhận thức rằng AEC không phải là mục tiêu hội nhập duy nhất của Việt Nam. Vì vậy, DN cần tập trung mọi nỗ lực để nâng cao năng lực cạnh tranh, tận dụng các cơ hội hội nhập để nâng cao năng lực cạnh tranh, qua đó có thể tồn tại và phát triển được trong thời gian tới khi Việt Nam hội nhập sâu hơn nữa vào nền kinh tế thế giới.

Nguyễn Văn Phụng

Vụ trưởng Quản lý thuế DN lớn, 

Tổng cục Thuế

DĐDN